Mở bài : giới thiệu về truyền thống tôn sư trọng đạo, có thể dẫn dắt bằng câu chuyện về Chu Văn An và học trò của mình
Thân bài
_ Nêu khái quát định nghĩa : sư là gì, đạo là gì, tôn sư trọng đạo là gì
_ Phân tích vì sao phải tôn sư trọng đạo
_ Tôn sư trọng đạo bằng cách nào
+ Thời xưa con người tôn sư trọng đạo như thế nào ? (nêu dẫn chứng các câu chuyện làm ví dụ)
+ Từ đó dẫn dắt truyền thống ấy luôn được nối tiếp qua mọi thời đại từ xưa đến nay. Thời nau con người vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp ấy ( nêu dẫn chứng tốt nhất đưa một câu chuyện cụ thể rồi khái quát )
_ Nhưng một số lớp người trẻ tuổi đã làm lu mờ truyền thống bằng cách nghĩ non dại và yếu kém, bằng những hành động vô lễ ( nêu dẫn chứng)
Kết bài
_ Rút ra lớp người hiện nay đã xảy ra sự lãng quên các truyền thống dân tộc => ra lời kêu gọi
_ Rút ra bài học bản than
Bai so 1
"Tôn sư trọng đạo" không chỉ còn là vấn đề đạo đức mà còn là một ttuyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Khi nào cuộc sống còn cần kiến thức, con người còn văn minh thì người thầy còn được tôn trọng. Mà chắc chắn rằng, con người không thể quay trở về với điểm xuất phát với cảnh sống ăn lông ở lỗ được. Vì thế, dù thời kì lịch sử nào, dù xã hội nào "Tôn sư trọng đạo" vẫn là truyền thống vô cùng tốt đẹp, và vô cùng cần thiết, cần được tiếp tục phát huy và gìn giữ. Đó là yếu tố quan trọng làm nên nền tảng đạo đức của xã hội văn minh.Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về vấn đề Đạo và Thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người Thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mối người "Không thầy đố mày làm nên". Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ, "Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy". Chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình:Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
Người làm thầy trong bất cứ xã hội nào luôn được xã họi tôn trọng "nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Bởi vậy, "tôn sư trọng đạo" không còn là một vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Thời xưa Platôn, Aritxtôt, Khổng Tử… từ người thầy đã trở thành những bậc thánh trong lòng học trò. Ngày nay, người thầy tuy không có vị trí tuyệt đối như thế song thầy vẫn là người được xã hội tôn trọng và "nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý". Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng đến đâu, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một. Trên thực tế, vấn đề "tôn sư trọng đạo" ngày nay đã có nhiều điều đáng phải bàn. Các thầy cô giáo dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn của cuộc sống vẫn đang ngày đêm lo lắng, nghiền ngẫm để truyền thụ cho học sinh những tri thức quý giá nhất. Còn học sinh, bên cạnh những học sinh chăm chỉ ngoan ngoãn, thực hiện đúng đạo làm trò, kính yêu và tôn trọng thầy cô giáo, đã có không ít bạn chót quên đi đạo nghĩa thầy trò. Những học sinh ấy đã vô tình hoặc cố ý vi phạm đạo làm trò, làm đau lòng các thầy cô giáo. Đã có những câu chuyện đau lòng mà chúng ta không muốn nhắc đến như hiện tượng học trò xúc phạm thầy cô giáo, vô lễ với những người đang ngày đêm dạy bảo mình những điều hay lẽ phải, truyền đạt cho mình những tinh hoa tri thức nhân loại. Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục lên án những học sinh đó.
"Tôn sư trọng đạo" là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của loài người. Nếu trẻ em là tờ giấy trắng thì người cầm cây bút viết lên những tờ giấy trắng ấy những tráng thẳng hàng, rõ nét, rõ chữ nhất chính là thầy cô giáo. Tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại cho thế hệ sau là biểu hiện của tình yêu tri thức, của lòng ham học hỏi, của ý chí và khát vọng vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế "tôn sư" không chỉ là vấn đề tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học mà còn là biểu hiện của tình yêu tri thức, biểu hiện của văn minh, tiến bộ. "Đạo" cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, ở những hình thức, thái độ ứng xử với người thầy mà còn là cả vấn đề đạo đức xã hội. Đó là đạo làm người, là đạo học ở đời. Trọng đạo là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống ham học.
Để xã hội ngày càng văn minh con người ngày càng phải chú ý đến chuyện học hành, tiếp thu tri thức. Vì thế, vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại đã thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Vai trò của người thầy ít nhiều thay đổi nhưng vị trí của người thầy thì không hề suy giảm. Thầy vẫn là thầy và ngày càng quan trọng hơn. Vì vậy, dù xã hội có đi đến đâu, xã hội ấy vẫn có những người muốn học và vẫn có những người thực hiện nhiệm vụ dạy bảo người đi sau. Trong cuộc sống ngày nay, khi mà vấn đề học hành ngày càng phức tạp và sự xuống cấp về đạo đức xã hội đang khiến nhiều người có lương tâm trách nhiệm phải quan tâm suy nghĩa thì vấn đề "tôn sư trọng đạo" càng phải tiếp tục được kế thừa và phát huy hơn nữa.
Tôn sư trọng đạo là một truyền thống đạo đức vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Đứng trước những hiện tượng đáng suy nghĩ hiện nay về vấn đề đạo đức học đường, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đối với những người làm thầy trong xã hội này. Tôn sư trọng đạo cần phải được quan tâm hơn nữa.
Bai so 2
Trong tiếng Việt, chữ thầy thường được dùng để tôn xưng một số loại người đáng kính trọng trong xã hội. Cho nên, nhà tu, người dạy học, người làm nghề thuốc, những người được coi là có tri thức, kể cả những người hành nghề bói toán, xem địa lý xưa kia… đều được gọi chung là thầy.
Vậy từ thầy xuất hiện trong tiếng Việt như thế nào?
Trước hết, về nguồn gốc, từ thầy thuộc về lớp từ Hán cổ, đã du nhập vào tiếng Việt từ trước thời Tam quốc (1), khác với sự du nhập vào tiếng Việt từ đời nhà Đường bằng con đường sách vở.
Giở lại thư tịch cổ, tìm trong các văn bản xưa nhất mà hiện nay ta còn giữ được thì thấy: từ thế kỷ XIII, từ thầy đã song song tồn tại với sư, đều mang sắc thái tôn xưng. Trong bài phú Cư trần lạc đạo (2) của vua Trần Nhân Tôn (1258 – 1308), cùng với câu “Nguyền mong thân cận mình sư, quả bồ đề một đêm mà chín” còn có câu “ Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo”. Thầy ở đây được dùng để gọi nhà sư. Đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380 – 1442), lại thấy có câu “Thuỷ chung mấy vật đều nhờ chúa; Động tĩnh nào ai chẳng bởi thầy”(3). Thầy trong câu này chính là người dạy học, như Văn Tân – Đào Duy Anh đã chú giải: “Việc động tĩnh hành chỉ ở đời ai lại không học ở thầy là thánh hiền của nho gia (phu tử)” (4). Những cứ liệu này cho thấy, từ thuở xa xưa, từ “thầy” đã dùng để gọi chung một lớp người được xã hội tôn trọng. Và, trong cái thế tranh chấp lâu dài đầy bất lợi giữa một bên là yếu tố Hán – Việt sư được dùng một cách chính thống, “độc quyền” trong khoa cử, văn chương bác học, một bên là từ thầy vốn được xem là “nôm na” chỉ dùng trong dân gian thì từ thầy đã chiến thắng; nó không hề bị trung hoà hay âm tính hoá sắc thái biểu cảm trước những từ Hán – Việt đồng nghĩa như thường thấy, để khi nền Hán học bị suy vong thì nó liền được dùng rộng rãi trong mọi phong cách chức năng ngôn ngữ nhằm chỉ người dạy học nói chung, còn sư và những từ có yếu tố sư thì trở thành từ lịch sử hay thuật ngữ (5).
Sở dĩ như vậy chính là nhờ ở cái cơ sở hiện thực: truyền thống tôn sư trọng đạo lâu đời của dân tộc ta. Từ xưa, nhân dân ta đã rất tôn trọng người thầy – nhà giáo, và mối quan hệ thầy trò trên phạm vị toàn xã hội luôn luôn được đề cao, qua mọi thời kỳ lịch sử. Cho nên dù là từ dùng trong sách vở hay ở dân gian thì cũng đều chung một màu sắc biểu cảm. Có điều, trong trường hợp này, từ ngữ của dân gian sẽ có sức sống hơn.
Tuy trong tiếng Việt hiện đại, thầy cũng còn xuất hiện trong vài tổ hợp có sắc thái âm tính như thầy bà, thầy dùi, nhưng theo chúng tôi nghĩ, có lẽ đây chỉ là sản phẩm của xã hội sau này. Và dù cho có một vài tổ hợp như vậy, tự thân từ thầy ngày nay vẫn không hề bị nhoè đi sắc thái nghĩa tôn xưng.
Lòng tôn sư trọng đạo ấy còn in sâu vào lời ăn tiếng nói của dân gian.
Đó chính là những lời tục ngữ, ca dao tôn vinh vai trò, vị trí của người thầy trong xã hội: Không thầy đố mày nên; Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy, mà này cả Thầy dở (thì) cũng đỡ láng giềng…
Đó là những thành ngữ, tục ngữ ngợi ca sự học: Người không học như ngọc không mài; Muốn hành nghề chớ nề học hỏi; Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học; Một kho vàng không bằng một nang chữ… Thời nào cũng vậy, vô sư, vô sách thì chẳng thể nên người. Cho nên, dù con học thóc vay chăng nữa, có bậc sinh thành nào mà chẳng cố? Phải cố, là vì: Chẳng cày lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu biết chữ? Chẳng học mà hay, chẳng cày mà có thì là điều cực kỳ vô lý vậy. Biết chữ là cơ hội để thoát khỏi tối tăm, nghèo đói. Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng, đó là quan niệm của dân ta trong hoàn cảnh xã hội đề cao khoa cử. Không chỉ vậy, học còn là để làm người, một quan niệm vô cùng sâu sắc: Bất học vô thuật (không học không biết xử sự); Bất học diện tường (không học như đứng trước tường); Nhân bất học bất tri lý (người không học không biết lý lẽ)…
Chính từ lòng tôn sư trọng đạo mà nhân dân ta quan niệm: nhất tự vi sư, bán tự vi sư – một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy; có thờ thầy mới được làm thầy. Kẻ không biết kính trọng thầy thì bị nhân dân sỉ vả thậm tệ. Câu thành ngữ lừa thầy phản bạn là để mắng những kẻ vong ân bội nghĩa, đã gán cho kẻ nào thì kẻ đó chẳng bao giờ còn dám ngẩng mặt lên.
Và ngược lại, người thầy cũng phải luôn luôn xứng đáng là thầy, là tấm gương sáng cho học trò nhìn vào đó noi theo. Khi nào mà câu nói cửa miệng “thầy ra thầy, trò ra trò” còn tồn tại thì chừng đó trong lĩnh vực giáo dục vẫn còn lắm vấn đề. Bởi vì bản thân một chữ thầy từ thuở xa xưa đã hàm sẵn cái sắc thái tôn xưng; cha muốn cho con hay, thầy muốn cho trò khá cũng là lẽ thường tình vậy.